(xin
bấm hình trên có bài Quốc Ca)
Khi
đọc sách sử, chúng ta đã thấy xuất hiện bóng dáng lá cờ từ
xa xưa lắm, nhất là trong khi bày binh bố trận, hai bên đều có
cờ hiệu riêng mà quân tướng dưới cờ phải sống chết bảo
vệ và cố triệt hạ lá cờ đối phương : một biểu hiệu của
sự chiến thắng.
Trong
thời quân chủ phong kiến, ông Vua nắm trọn quyền lãnh đạo đất
nước hoặc các bộ tộc hoàn toàn làm chủ lãnh địa nên hiệu
kỳ được xem là tiêu biểu của Vua hay một triều đại hoặc các
bộ tộc đó. Các lá cờ tiêu biểu đó dĩ nhiên là có thể thay
đổi tuy theo ý muốn của người nắm giữ quyền uy.
Ý
niệm lấy lá cờ làm biểu tượng cho một quốc gia mới xuất
hiện từ cuộc cách mạng Pháp 1789, hệ quả của cuộc cách mệnh
này là đất nước không thuộc quyền sở hữu riêng của nhà Vua
hay một gia tộc có thế lực nào mà thuộc quyền sở hữu chung
của mọi người cùng chấp nhận sống chung trong một cương vực
lãnh thổ.
Do
đó, lá cờ cũng phải là biểu trưng của toàn dân không thể được
thay đổi tùy tiện.
Sự
hình thành lá cờ ba màu (tam sắc) xanh trắng đỏ của Pháp hiện
nay là do sự tương nhượng giữa Vua Louis 16 đang trị vì nước Pháp
và nhân dân thị xã Paris nổi dậy đòi cải tổ chế độ : cờ
hiệu tiêu biểu cho hoàng gia có màu trắng thêu một hoa huệ màu vàng,
lá cờ thị xã Paris gồm hai màu xanh và đỏ xếp bằng nhau, kết
hợp hai lá cờ trên lại, màu trắng được đặt ở giữa, hai màu
xanh đỏ ghép hai bên thành lá cờ xanh trắng đỏ như hiện nay. Ba
màu trên cũng phù hợp với ba tiêu ngữ cách mạng Pháp: Tự Do - Bình
Ðẳng - Bác Aùi. ề Quốc kỳ của chúng ta, trước khi bàn đến
Quốc kỳ hiện tại, chúng ta tìm hiểu những Quốc kỳ xuất
hiện trước đó.
Theo
truyền thuyết, Quốc kỳ nuớc ta xuất hiện lần đầu tiên khi phái
bộ Phan Thanh Giản yết kiến Vua Nã Phá Luân đệ tam vào năm 1863
để thương thảo việc chuộc lại ba tỉnh Biên Hòa, Gia Ðịnh và
Ðịnh Tường. Vì phải có Quốc kỳ theo nghi thức ngoại giao, cụ
Phan Thanh Giản đã quyền biến lấy vải vàng có vạch đỏ ở
giữa mang trên lễ phục thay thế.
Về
phương diện chính thức, Quốc kỳ nước Ðại Nam ra đời trong tình
hình nhiễu nhương thời đệ nhị thế chiến, trước sức ép
của Nhật ở Ðông Nam Á. Toàn quyền Decoux phải nhượng bộ
nhiều đòi hỏi của quân Nhật về quyền thông quá trên lãnh
thổ Việt Nam đồng thời cũng áp dụng chánh sách xoa dịu phần nào
người Việt Nam. Lợi dụng tình huống đó Hoàng đế Bảo Ðại
ban chiếu ấn định Quốc kỳ nước Ðại Nam (chủ quyền lúc
ấy, thực ra chỉ có Trung Kỳ và Bắc Kỳ (bảo hộ), vì Nam Kỳ
bị ép nhượng làm thuộc địa cho Pháp theo Hòa Ước Giáp Tuất năm
1874) là lá cờ nền vàng, một sọc đỏ nằm ngang ở giữa to
bằng một phần ba (1/3) chiều ngang lá cờ, gọi là cờ Long Tinh.
Long là rồng tượng trưng cho nhà vua, Tinh là cờ, Long Tinh chỉ là
cờ của nhà Vua.
Ðến
khi Nhật đảo chánh Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945 tuyên bố trả độc
lập cho Việt Nam, Hoàng đế Bảo Ðại tuyên bố nước nhà độc
lập, Cụ Trần Trọng Kim nhận thành lập Chánh phủ độc lập
tự chủ, việc làm trước hết là tạo ra Quốc kỳ và Quốc ca
(sẽ bàn sau). Cụ chọn lá cờ màu vàng giữa có quẻ ly màu đỏ,
hình thức giống như lá cờ hiện nay chỉ có sọc đỏ ở giữa là
đứt đoạn, theo Cụ giải thích (Một cơn gió bụi, trg 60): "Lá
cờ vàng là từ xưa nước ta vẫn dùng. Trong sách "Quốc
sử diễn ca" nói bà Triệu Ẩu nổi lên đánh quân Tàu, đã dùng
lá cờ ấy khởi nghĩa, nên ta có câu rằng: "Ðầu voi phất
ngọn cờ vàng." Vậy lấy sắc cờ vàng là hợp với ý cách
mạng của Tổ Quốc, lấy dấu hiệu quẻ ly là vì trong lối chữ
tối cổ của ta có tám chữ viết bằng vạch liền (dương) và
vạch đứt (âm) để chỉ tám quẻ, chỉ bốn phương chánh và
bốn phương bàng, nói ở trong kinh Dịch, mà quẻ Ly chỉ phương
Nam. Chữ Ly còn có nghĩa là lửa, là văn minh, là ánh sáng phóng ra
bốn phương. Lấy sắc vàng là hợp với lịch sử, lấy quẻ Ly là
hợp với vị trí nước ta lại có nghĩa chỉ một nước văn
hiến như ta thường xưng. Như thế là lá cờ vàng quẻ Ly có đủ
các ý nghĩa."
Ngoài
ra theo giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, bên trong quẻ Ly có một vạch đứt
lên kết hai vạch liền, đó là chữ Công theo Hán tự như thủ công,
công nghệ mang ý nghĩa siêng năng, khéo léo của dân tộc Việt Nam
trong các ngành hoạt động sản xuất công nghệ.
Khi
phe Trục đầu hàng, phe Ðồng Minh yểm trợ Pháp trở lại Ðông Dương
, vẫn nặng óc thực dân, chánh quyền Pháp thời ấy khuyến khích
phong trào tự trị, nương thế đó, Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc ra đời
ngày 23-6-1946 với lá cờ nền vàng, ba sọc xanh và hai sọc trắng
xen kẽ. Theo giáo sư Nguyễn Ngọc Huy: "Xét về mặt thẩm
mỹ, cờ này rất khó coi...tôi đã đặt cho no biệt danh là lá
cờ sốt rét." Còn Quốc kỳ của chúng ta hiện nay
do cựu Hoàng Bảo Ðại lựa chọn trong một phiên họp với đại
diện các Ðoàn thể Chính trị và Tôn giáo và nhân sĩ quốc gia
tại Hương Cảng năm 1948. Mẫu cờ này do họa sĩ nổi tiếng Lê Văn
Ðệ vẽ, ba sọc đỏ trên nền vàng và được Chánh phủ Trung
Ương Lâm Thời Việt Nam Nguyễn Văn Xuân thành lập ngày 2-6-1948 chánh
thức dùng làm Quốc kỳ lần đầu tiên thay cờ quẻ Ly và được
dùng liên tục cho đến ngày nay, tính ra đúng nửa thế kỷ.
Xét
về ý nghĩa thì ba vạch liền thuộc quẻ Càn, tượng trưng cho
Trời, Cho Vua, chỉ tánh cương kiện, tiêu biểu cho quyền uy. Trong
một thể chế dân chủ thì có thể hiểu quẻ Càn biểu trưng
chủ quyền tối thượng của quốc gia và là thực lực hùng mạnh
của dân tộc. Về khía cạnh chính trị, sắc cờ vàng (như lý
giải của cụ Trần Trọng Kim ở trên) là hợp với cái ý cách
mệnh của Tổ Quốc, biểu tượng quốc gia dân tộc, ba vạch
biểu trưng cho ba miền đất nước bất khả phân ly. ói đến
Quốc kỳ, không thể không đề cập đến Quốc ca vì đó là hai
biểu tượng gắn bó với nhau như hình với bóng.
Cững
như ý niệm về Quốc kỳ, từ xưa các vị lãnh đạo thế quyền
hay thần quyền trong các chế độ quân chủ phong kiến thường dùng
những khúc nhạc hay bài ca cáo tế trời đất, nguyện cầu thần
linh, ca tụng công đức, tán thán cảnh thái bình an lạc,... xướng
lên hay đồng hát ca trong các buổi tế lễ chánh thức có sự
hiện diện của họ, đó chỉ là biểu tượng riêng của người
đang nắm giữ quyền uy. Ý niệm chọn bài hát làm biểu tượng
chung cho dân tộc cũng xuất hiện đầu tiên trong cuộc cách mạng
Pháp năm 1789, đó là bản "La Marseillaise". Tiên
khởi chỉ là bản nhạc quân hành do Ðại úy Rouget De Lisle soạn
(25-4-1792) theo lời yêu cầu của Thị trưởng Strasbourg để khích
lệ đạo quân sông Rhin có tựa la Chant de guerre pour l’armée du
Rhin, về sau có tên phổ biến là "La Marseillaise"
vì đoàn quân chí nguyện ở Marseille hát vang trên đường kéo về
Paris, đến ngày 14-7-1795 thì chính thức trở thành bài Quốc ca Pháp. Phần
Việt Nam chúng ta, có thể nói nhờ tiêm nhiễm Tây học, ý thức
tầm quan trọng của biểu tượng quốc gia thể hiện qua Quốc kỳ
và Quốc ca, Hoàng đế Bảo Ðại đã ấn định bản Quốc ca cùng
lúc với lá Quốc kỳ Long Tinh đã đề cập ở trên, đó là bài
Ðăng đàn cung, một bản nhạc rất xưa, âm điệu trang nghiêm được
tấu lên khi các Vua triều Nguyễn làm tế lễ cáo trời đất ở
đàn Nam Giao Huế, lời hát ca tụng giang sơn gấm vóc, tưởng
niệm công lao tiền nhân:
Bên
núi sông hùng vĩ trời Nam.
Ðã
bao đời vết anh hùng chưa hề tan.
Vì
đâu máu ai ghi ngàn thu.
Còn
tỏ tường bên núi sông.
Xác
thân tan tành.
Vì
nước quên mình.
Chúng
ta đều ước mong rằng:
Dân
Việt Nam anh dũng muôn năm.
Thừa
cơ Nhật đảo chánh Pháp, Hoàng đế Bảo Ðại tuyên bố nước nhà
độc lập, nội các Trần Trọng Kim đã chọn lá cờ Quẻ Ly thay lá
cờ Long Tinh, nhưng vẫn giữ bài Ðăng đàn cung làm
Quốc ca vì chưa có bài nào hay và có nghĩa lý hơn (theo
giải thích của Cụ Trần Trọng Kim trong Một cơn gió bụi, trg
60).
Còn
thành phần theo phong trào Nam Kỳ tự trị với sự hình thành Nam
Kỳ Cộng Hòa Quốc, theo giáo sư Nguyễn Ngọc Huy họ "đã dùng
làm bản Quốc ca một bản phổ nhạc của mấy câu thơ đầu trong
Chinh Phụ Ngâm khúc mà tác giả là giáo sư Võ Văn Lúa... Sau đó
lại dùng một bản nhạc khác cũng của vị giáo sư này làm Quốc
ca, nhưng về nhạc và lời, bản sau này cũng chẳng hơn gì bản trước. Còn
Quốc ca của chúng ta hiện nay có một quá trình chuyển biến khá
lý thú, nhạc thì do ông Lưu Hữu Phước sáng tác trong lúc ông còn
là một sinh viên Nha khoa ở Hà Nội. Cũng cần nhắc lại là Viện
Ðại học Hà Nội là Viện Ðại học duy nhất cho toàn Ðông Dương
nên ngoài sinh viên Việt Nam là đa số còn có sinh viên Miên, Lào và
cả sinh viên Pháp cư trú ở Ðông Dương.
Ðây
là nơi tập trung tinh hoa của Việt Nam , bấp chất mọi nguy hiểm
do việc ngăn trở của thực dân, nhiều sinh viên thời đó đã bí
mật hoạt động chống thực dân, giành độc lập như Nguyễn Thái
Học (Cao Ðẳng Thương Mãi), Trương Tử Anh (Luật), Nguyễn Tôn Hoàn
(Y khoa), Phạm Ðăng Cảnh (Y khoa) Mai Văn Bộ (Y khoa), Lưu Hữu Phước,
Huỳnh Văn Tiểng... Nhân dịp tổ chức buổi nhạc hội gây
quỹ giúp bệnh nhân nghèo ngày 15-3-1942, Tổng hội sinh viên Hà
Nội muốn có một bản nhạc tiêu biểu cho hoạt động sinh viên;
với tư cách Trưởng ban âm nhạc của Tổng hội, ông Nguyễn Tôn
Hoàn đã chọn bản nhạc này vì nhận thấy nhịp điệu hành khúc
hùng mạnh kích thích tinh thần, lời ca thì do nhiều người họp
soạn như Ðặng Ngọc Tốt, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng, Hoàng Xuân
Nhị...... Tựa là Marche des étudiants (Sinh viên hành khúc) : Lời
Pháp
Eùtudiants!
Du sol l’appel tenace
Pressant
et fort, retentit dans l’espace.
Des
côtes d’Annam aux ruines d’Angkor.
À
travers les monts du Sud jusqu’au Nord.
Une
voix monte ravie.
Servir
la chère patrie!
Toujours
sans reproche et sans peur.
Pour
rendre l’avenir meilleur.
La
joie, la ferveur, la jeunesse.
Sont
pleines de fermes promesses.
Refrain:
Te
servir, chère Indochine.
Avec
coeur et discipline.
C’est
notre but, c’est notre loi.
Et
rien n’ébranle notre foi.
Riêng
về lời Việt, rõ ràng là các đồng tác giả đã chủ tâm hướng
đến khích động tinh thần yêu nước và dấn thân của cả tầng
lớp thanh niên thời ấy:
Lời
ca thứ I.
Này
sinh viên ơi ! Ðứng lên đáp lời sông núi.
Ðồng
lòng cùng đi ,đi đi mở đường khai lối.
Vì
non sông nước xưa, truyền muôn năm chớ quên.
Nào
anh em Bắc Nam, cùng nhau ta kết đoàn.
Hồn
thanh xuân như gương trong sáng.
Ðừng
tiếc máu nóng, tài xin ráng.
Dầu
bao chông gai vững lòng chi sá.
Ðường
mới kíp phóng mắt nhìn xa bốn phương.
Tung
cánh hồn thiếu niên ai đó can trường.
Ðiệp
khúc:
Sinh
viên ơi! Ta quyết đi đến cùng.
Sinh
viên ơi! Ta thề đem hết lòng.
Tiến
lên đồng tiến, vẻ vang đời sống.
Chớ
quên rằng ta là giống Lạc Hồng.
Lời
ca thứ II.
Này
sinh viên ơi! Dấu xưa vết còn chưa xóa.
Hùng
cường trời Nam, ghi trên bản vàng bia đá.
Bình bao phen
Tống Nguyên, từng ca câu hải hoàn.
Hồ
Tây tranh phong oai son phấn.
Lừng
tiếng sát thát Trần Quốc Tuấn.
Mài
kiếm cứu nước nhớ người núi Lam.
Trừ
Thanh, Quang Trung giết hằng bao đám.
Nòi
giống có khí phách từ xưa chớ quên.
Mong
đến ngày vẻ vang, ta thắp hương nguyền.
Ðiệp
khúc:
Sinh
viên ơi, ta quyết đi đến cùng.
Sinh
viên ơi, ta thề đem hết lòng.
Tiến
lên đồng tiến, vẻ vang đời sống.
Chớ
quên rằng ta là giống Lạc Hồng.
Lời
ca thứ III.
Này
sinh viên ơi, muốn đi đến ngày tươi sáng.
Hành
trình còn xa, chúng ta hãy cùng nhau gắng.
Ngày
xưa ai biết đem tài cao cho núi sông.
Ngày
nay ta cũng đem lòng son cho giống dòng.
Là
sinh viên vun cây văn hóa.
Từ
trước sẵn có nhiều hoa lá.
Ðời
kiến thiết đáp lòng những ai.
Bền
chí quyết cố gắng làm cho khắp nơi.
Vang
tiếng người nước Nam cho đến muôn đời.
Ðiệp
khúc :
Sinh
viên ơi, ta quyết đi đến cùng.
Sinh
viên ơi, ta thề đem hết lòng.
Tiến
lên đồng tiến, vẻ vang đời sống.
Chớ
quên rằng ta là giống lạc Hồng.
Với
âm điệu hùng tráng, với lời ca phấn kích, lại được lớp sinh
viên tranh đấu Nam Trung Bắc chú tâm phổ biến nên bản nhạc
nhanh chóng được loan truyền khắp mọi nơi.
Bài
Sinh viên hành khúc lời Việt (phần một} sau đó trở thành đoàn
ca của tổ chức Thanh Niên Tiền Phong (1945) lời vẫn giữ y chỉ
thay hai chữ Sinh viên bằng hai chữ Thanh niên với tựa mới là
Tiếng Gọi Thanh Niên hay là Thanh Niên Hành Khúc.
Cũng
trong mục đích biểu dương ý chí độc lập thống nhất dân
tộc, cùng lúc với việc chọn lá Quốc kỳ và Quốc ca được
cựu Hoàng Bảo Ðại và các đại diện đoàn thể chính trị tôn
giáo và nhân sĩ hiện diện ở Hương Cảng lúc đó (1948) bàn đến;
là chọn lựa bản nhạc Sinh viên Hành khúc, lời ca mang nhiều ý
nghĩa lại được phổ biến không những trong giới thanh niên sinh
viên mà quần chúng Bắc Trung Nam cũng biết đến rât nhiều, ông
Nguyễn Tôn Hoàn đề nghị lấy bản này làm Quốc thiều Việt
Nam, mọi người đều đồng ý, bản nhạc một lần nữa đổi
tựa là Tiếng Gọi Công Dân, lời ca (phần một) như cũ, chỉ thay
đổi chữ Sinh Viên hay Thanh Niên ra thành Công Dân.
Sự
lựa chọn này được Chánh phủ lâm thời Việt Nam Nguyễn Văn Xuân
chánh thức hợp thức hóa cùng lúc với lá Quốc kỳ đã đề
cập ở trên.
Ðến
khi ông Ngô Ðịnh Diệm truất phế Bảo Ðại năm 1955. Quốc hội
lập hiến năm 1956 có tính đến việc chọn bài Quốc ca khác, do
đó Quốc hội đã quyết định giữ lại bản nhạc, chỉ thay đổi
lời như chúng ta đang hát hiện nay:
Này
công dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng.
Ðồng
lòng cùng đi, hy sinh tiếc gì thân sống.
Vì
tương lai quốc dân, cùng xông pha khói tên.
Làm
sao cho núi sông từ nay luôn vững bền.
Dầu
cho thây phơi trên gươm giáo.
Thù
nước lấy máu đào đem báo.
Nòi
giống lúc biến phải cần giải nguy.
Người
công dân luôn vững bền tâm chí.
Hùng
tráng quyết chiến đấu làm cho khắp nơi.
Vang
tiếng người nước Nam cho đến muôn đời.
Ðiệp
khúc:
Công
dân ơi! mau hiến thân dưới cờ.
Công
dân ơi! mau làm cho cõi bờ.
Thoát
cơn tàn phá, vẻ vang đời sống.
Xứng
danh ngàn năm dòng giống Lạc Hồng.
Tính
ra đến nay, Quốc kỳ và Quốc ca đã xuất hiện vừa tròn nửa
thế kỷ.
Sau
ngày Cộng sản chiếm miền Nam, hàng triệu người bỏ nước ra đi
tỵ nạn chính trị ở xứ người; trong khi tuyệt đại đa số
vẫn coi Quốc kỳ và Quốc ca là bảo vật thiêng liêng cần phải
trân trọng giữ gìn thì có một số người chủ trương phủ
nhận, viện lẽ nào là lá cờ bại trận, nào là lá cờ của
thời thực dân hoặc của những nhân vật lãnh đạo bất xứng,
về Quốc ca thì cho là không nên tiếp tục dùng bản nhạc của người
Cộng sản (Lưu Hữu Phước).
Thái
độ cần có của chúng ta như thế nào?
Trước
hết, xét về nguyên lai và lịch sử Quốc Kỳ và Quốc ca, chúng
ta đã thấy đó là những biểu tượng hào hùng của cả một dân
tộc xuất phát từ ý chí tranh đấu mãnh liệt giành độc lập và
thống nhất lãnh thổ từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, hình ảnh lá
cờ lại có những ý nghĩa triết lý sâu sắc đáng được ngưỡng
mộ, âm hưởng nhạc quốc thiều đã khắn sâu vào tâm tưởng
mọi người, lời nhạc hùng khích lệ bao thế hệ đã theo tiếng
gọi thiêng liêng của Tổ Quốc, lên đường đáp lời sông núi và
nhiều người đã hy sinh dưới ngọn cờ thiêng liêng này.
Dù
lịch sử có thăng trầm, Quốc Kỳ và Quốc ca luôn luôn hiện
diện như điểm hội tụ của mọi thành phần dân tộc không
chấp nhận Cộng sản, có tác dụng như chất xúc tác kết hợp
mọi tổ chức tranh đấu trong tinh thần "một mẹ trăm
con" giống Lạc Hồng.
Một
khi đã trở thành biểu tượng chung của toàn dân thì không còn là
của riêng ai nữa. Những lý do như lá cờ xuất hiện từ thời
thực dân hay của những nhân vật lãnh đạo bất xứng cũng như
không nên sử dụng bản nhạc của tên Cộng sản Lưu Hữu Phước
đều thiếu lý do vững chắc. ả lại, thử hỏi ai có quyền
nhân danh tập thể người Việt Quốc gia lưu vong ấn định Quốc
kỳ, Quốc ca và Quốc khánh, nhất là trong tình trạng nước mất
nhà tan như hiện nay, đặt vấn đề thay đổi Quốc kỳ, Quốc ca
càng không hợp thời , không đúng chỗ nếu không muốn nói là phi
lý. ủ trương phủ nhận hay thay đổi Quốc kỳ và Quốc ca
trong tình trạng hiện nay là chủ trương của những kẻ muốn
phủ nhận Chánh nghĩa Quốc gia mà hàng triệu người đã hy sinh xương
máu để bảo vệ.
Chỉ
có những kẻ muốn lũng đoạn hàng ngũ quốc gia mới chủ trương
phủ nhận hay thay đổi Quốc kỳ, Quốc ca. Chúng ta cương quyết
không để mắc mưu Cộng sản.
Quốc
kỳ và Quốc ca là những báu vật còn sót lại, chúng ta phải
biết trân trọng quý báu bảo vệ. Có thể nói Quốc kỳ, Quốc ca
là những linh vật bất khả phân ly và có khả năng quy tụ mọi
thành phần người Việt quốc gia. Nhìn biểu hiệu Quốc kỳ, nghe
xướng xuất Quốc ca tức thì anh em nhận diện nhau vui mừng hớn
hở, trái lại, đối với bọn Việt cộng, bọn Cộng sản nằm vùng,
bọn xu thời khi nghe và thấy Quốc ca và Quốc kỳ có tác dụng như
lá bùa thiêng, như câu thần chú trừ tà ếm quỷ, ở đâu phất
phới bóng cờ vàng ba sọc đỏ là Việt cộng phải lánh xa, nơi nào
vang vọng âm thanh Tiếng Gọi Công Dân là Việt cộng phải kinh hãi,
chánh tà nhờ đó mà dễ phân biệt.
Hơn
bao giờ hết, mọi người chúng ta phải cố xiển dương Quốc kỳ
và Quốc ca như nhiều nơi đã tranh đấu xây dựng kỳ đài để
Quốc kỳ luôn tung bay trước gió, biểu dương ý chí đấu tranh kiên
cường của người Việt quốc gia, khẳng định với bọn Việt
cộng và bè lũ tay sai là chúng ta vẫn còn đây như chí sĩ Trần Văn
Bá đã cổ võ trong ngày hội Tết sinh viên tại Paris năm 1976. úng
ta: Hãy nắm tay nhau giữ vững cờ.
Mặc
người đổi dạ chạy nhi nhô.
Cờ
ta phất phới bay trong gió.
Chính
nghĩa ngàn năm sẽ chẳng mờ.
Ta
giữ cờ ta phất phới bay.
Hai
mươi năm đã... vẫn còn đây.
Hai
mươi năm nữa dù dâu bể.
Quê
Mẹ cờ ta phất có ngay.
Nhóm
Công tác HÙNG-NGUYÊN
|