![]() ![]() SỬ
GIA PIERRE BROCHEUX TIN
LÀ HỒ
CHÍ MINH CÓ NHIỀU VỢ Bảo
Thạch Hơn
30 năm sau ngày ông Hồ Chí Minh qua đời, viết về cuộc đời
ông không còn là điều quá khó khăn đối với nhà sử
học. Các kho tư liệu ở Pháp, ở Liên Bang Nga, những lời
tường thuật của một số nhân chứng người Việt sau này,
cho phép vén bức màn bí mật, đưa ra ánh sáng một số sự
kiện mà ông Hồ lúc còn sống không hề tiết lộ. Trên cơ
sở này, nhà sử học Pierre Brocheux vừa công bố tập sách
nhan đề "Hồ Chí Minh". Ðây là kết quả công
việc tìm hiểu, đối chiếu, đánh giá gần như toàn bộ
những chứng từ và sách nghiên cứu về gương mặt lịch
sử tiêu biểu của Việt Nam thế kỷ 20. Dưới
ngòi bút của Pierre Brocheux, Hồ Chí Minh hiện rõ lên như
một con nguời, với đầy đủ phẩm chất của một con người.
Ông Hồ có cả ưu điểm của một lãnh tụ và cả nhược
điểm phản ảnh những trì trệ của cộng đồng đã sản
sinh ra chính mình. Nói cách khác, ông Hồ vừa là nhà cách
mạng, nhưng ông cũng là hiện tượng xã hội mang tính Nho
giáo. Ðó là sợi chỉ đỏ mà nhà sử học Pierre Brocheux đã
phát hiện để mô tả chân dung Hồ Chí Minh. Theo
Pierre Brocheux, một sở trường của Hồ Chí Minh, đó là ông
là người nắm vững cách tự giới thiệu mình sao cho thích
hợp với người Việt Nam. Trong một lá thư đề ngày
20/05/1924, hiện nay ở trong kho lưu trữ tư liệu Quốc tế
Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc gởi cho văn phòng Ðông phương
viết rằng: "Những dân tộc phương đông nhìn
chung rất giầu tình cảm. Ðối với họ, một tấm gương
quý giá hơn hàng trăm hội nghị tuyên truyền." Lấy
bản thân mình làm một tấm gương để răn dậy người đời,
đó là mục đích của Hồ Chí Minh qua hai tác phẩm tự
truyện mang tên "Những mẩu chuyện về đời hoạt động
của Hồ chủ tịch" và "Vừa đi đường, vừa
kể chuyện". Dưới bút danh Trần Dân Tiên và T.
Lan, Hồ Chí Minh xây dựng cho mình hình ảnh của một vị
thầy, một vị cha già dân tộc. Không phải ngẫu nhiên mà
Hồ Chí Minh tự xếp mình vào vị trí một người thầy và
một người cha. Ðối với dân tộc Việt Nam, mang truyền
thống văn hoá khổng giáo, vốn tôn trọng trật tự "quân-sư-phụ",
thì quả là ông đã bắt mạch rất đúng những quy luật
của nghệ thuật tuyên truyền. Cũng
trong tập sách của Trần Dân Tiên, Hồ Chí Minh viết về mình
như sau: "Một người như Hồ chủ tịch của chúng ta,
với đạo đức khiêm tốn nhường ấy và đang lúc bề
bộn bao nhiêu công việc, làm sao có thể kể cho tôi nghe bình
sinh của Người được." Ở đây xin nhấn mạnh là
chữ "Người" viết hoa. Một
điều khiến nhiều nhà quan sát ghi nhận ngay từ khi gặp
gỡ Hồ Chí Minh, đó là ông không muốn nhắc lại thân
thế của mình. Thật ra, theo những tài liệu lịch sử được
lưu trữ tại Pháp, thanh niên Nguyễn Tất Thành, bắt đầu
từ năm 1910, mang nặng trong tâm khảm bi kịch của gia đình.
Vào năm 1910, bố anh, ông tri huyện Nguyễn Sinh Huy bị kỷ
luật nặng và mất chức vì tội say rượu và đánh chết
một nông dân. Anh thanh niên Nguyễn Tất Thành phải bỏ
học. Sử gia Pierre Brocheux cũng thiên về giả thuyết
Nguyễn Tất Thành lên tàu sang Pháp năm 1911 để tìm đường
tự cứu mình và cứu gia đình. Bằng chứng là ngày 15 tháng
9 năm 1911, Nguyễn Tất Thành còn gởi một lá đơn xin vào
học ở Trường Thuộc địa. Theo Pierre Brocheux, kinh nghiệm
của anh Thành khi bôn ba ở hải ngoại, đã từ từ giúp anh
chuyển từ tham vọng giúp nước sang quyết tâm cứu nước.ới
nhãn quan của một độc giả ở thế kỷ 21, cuộc sống tình
cảm của Hồ Chí Minh không những với người ruột thịt
trong gia đình mà cả với những người yêu trong nhiều
chặng đường là điều rất tự nhiên, tăng thêm nét tinh
tế, nét hồn nhiên cho bức chân dung. Trước đây, sử gia
Pháp Daniel Hémery đã phát hiện ông Hồ đã hai lần có
vợ. Ðó là cô Marie Bière ở Paris trong thập niên 20, và cô
Tăng Tuyết Minh ở Trung Quốc vào năm 1928. Pierre Brocheux hôm
nay xác định: ông Hồ vào năm 1954 còn sống ở Hà Nội
với cô Ðỗ Thị Lạc, và đã có với cô này một đứa
con trai năm 1956 mang tên Nguyễn Tất Trung. Hồ
Chí Minh không phải là đấng siêu phàm. Ông cũng biết rung
động như mọi người khác. Những khỏang trống trong tiểu
sử Hồ Chí Minh ngày nay đang được lấp dần. Tất nhiên,
chúng vẫn còn phải chờ để được xác định thêm nữa. Trong
cuộc đời hoạt động của ông, với danh nghĩa Ủy viên
Quốc tế Cộng sản, ông Hồ cũng đã từng bị thất sủng
từ 1933 đến 1938. Theo một tài liệu còn lưu trữ của
Quốc tế Cộng sản, ông Hồ bị mang ra trước một hội đồng
kỷ luật năm 1934. Một bức thư khác của ông Hồ, đề năm
1938, được nhà nghiên cứu Sophia Quinn-Judge phát hiện mới
đây, còn nói lên nỗi khổ tâm của ông khi bị Quốc tế
Cộng sản nghi ngờ và không giao việc trong nhiều năm tháng.ười
Cộng sản chân thành như ông Hồ Chí Minh, vào những năm
cuối đời, từ 1960 trở đi, có lẽ ngày càng xích lại
gần với những giá trị nhân văn đông phương. Ðó là
giả thuyết của Pierre Brocheux khi ông diễn giải một bài
thơ của Hồ Chí Minh, sáng tác năm 1965, nhân dịp ông Hồ
sang thăm Sơn Ðông, quê quán của Khổng Tử. Pierre
Brocheux viết "Ký ức về nền độc tài nghiệt ngã
của Staline, việc Mao Trạch Ðông chuyển biến thành vị thiên
tử, những sai lầm của chế độ Việt Nam, chắc hẳn đã
khiến cho Hồ Chí Minh quay trở về với nền triết lý trường
tồn của văn hoá Hán-Việt." Trong
chương cuối cùng của tập sách, Pierre Brocheux đánh giá ông
Hồ là con người thực tâm và có lẽ cả tin nữa. Ông tin
tưởng một ngày kia cả thế giới sẽ theo chủ nghĩa xã
hội. Ðiều này chắc chắn như đinh đóng cột. Theo Pierre
Brocheux, bậc thang giá trị của Hồ Chí Minh, nhân sinh quan
của ông, rất gần với Tuân Tử, học trò của Mạnh Tử.
Ông Hồ đã cấy vào đó những nhận thức mang tính thực
tiễn, rút tiả từ chủ nghĩa Lénine. Ðáp án của ông Hồ
là cách tân những giá trị của Tuân Tử khi hấp thụ học
thuyết Lénine. Do đó, ông Hồ coi trọng việc giáo dục, xem
việc giáo dục đảng viên là nhiệm vụ hàng đầu. Vẫn
theo Brocheux, khi đặt đạo đức cách mạng làm nền tảng
phục vụ cho Ðảng và cho nhân dân, ông Hồ đã ứng dụng
vào thế kỷ 20 một tư tưởng xa xưa của Nho giáo: đào
tạo một tầng lớp ưu tú để nắm chính quyền, và đổi
lại, tầng lớp này sẽ khai hoá và phục vụ cho nhân dân. Ông
Hồ đã mất trước khi mà sự vận hành trái khớp của
kinh tế và xã hội Việt Nam đã để lộ rõ những mâu
thuẫn thuộc về bản chất của chế độ. Pierre Brocheux
kết luận: "Tuy vậy, ta không khỏi đặt câu hỏi
nếu ông Hồ không mất, liệu ông có đủ khả năng cầm cân
nẩy mực, đưa Việt Nam sang con đường phát triển hiện đại
hay là không ?" |